Friday, 20/09/2019 - 20:00|
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ CẦN THƠ
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Tìm giải pháp phát triển giáo dục Đồng bằng sông Cửu Long

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh/thành phố lâu nay vẫn được coi là “vùng trũng” về giáo dục và đào tạo. Hầu hết các chỉ tiêu về giáo dục của vùng đều thấp hơn chỉ tiêu chung của cả nước và các khu vực khác. Trước yêu cầu đổi mới, nhất là chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo dục Đồng bằng sông Cửu Long cần những giải pháp mạnh mẽ để “vượt trũng”.

Thiếu 16.778 giáo viên mầm non, phổ thông

Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có 2.029 trường mầm non, 3.101 trường tiểu học, 1.407 trường THCS, 377 trường THPT. Vùng ĐBSCL có 231.147 cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên.

Khu vực ĐBSCL vẫn là "vùng trũng" về giáo dục và đào tạo

Theo thống kê số lượng thừa thiếu giáo viên từ 13 tỉnh trong khu vực theo định mức năm học 2018-2019, ĐBSCL còn thiếu 11.637 giáo viên mầm non, 2.583 giáo viên tiểu học, 2.157 giáo viên THCS, 401 giáo viên THPT. Tuy nhiên, toàn vùng cũng thừa 1.686 giáo viên tiểu học, 1.073 giáo viên THCS, 3.579 giáo viên THPT.

ĐBSCL có tỷ lệ phòng học/lớp học, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa bình quân thấp nhất cả nước. Đối với giáo dục mầm non, để ĐBSCL có điều  kiện về phòng học và thiết bị dạy học ngang bằng cả nước cần đầu tư bổ sung 2.400 phòng học, cải tạo, nâng cấp 2.100 phòng học, trong đó chưa tính đến số lượng phòng học còn thiếu khi huy động trẻ đến trường bằng với mặt bằng chung của cả nước.

Ở bậc tiểu học, để ngang bằng mức trung bình của cả nước ĐBSCL cũng cần đầu tư mới khoảng 900 phòng học, cải tạo, nâng cấp khoảng 4.300 phòng học; bậc THCS cần đầu tư cải tạo, nâng cấp khoảng 1.857 phòng học; bậc THPT cần đầu tư cải tạo, nâng cấp khoảng 223 phòng học. Đó là chưa nói tới số phòng học bộ môn cần đầu tư mới và đầu tư trang thiết bị dạy học.

Do địa hình sông nước, kênh rạch, đi lại không thuận lợi nên ĐBSCL còn là khu vực có số điểm trường nhiều nhất cả nước và là khu vực duy nhất có điểm trường ở cấp THPT. Bài toán sắp xếp, dồn dịch trường lớp đang đặt ra cấp thiết với khu vực này để nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.

Những năm qua, chất lượng giáo dục khu vực ĐBSCL đã được nâng lên, tuy nhiên đây vẫn là ‘vũng trũng” về giáo dục đào tạo. Tỷ lệ huy động trẻ mầm non ra lớp và tỷ trẻ mầm non thấp nhất so với các vùng và thấp hơn tỷ lệ trung bình của cả nước; số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày đạt 63,45% (cả nước đạt trên 80%), chưa có tỉnh nào trong khu vực đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi cấp độ 3.

Chi ngân sách địa phương cho giáo dục thấp nhất cả nước

Theo số liệu tổng hợp của Kho bạc nhà nước trong giai đoạn 2011 đến 2016, chi ngân sách địa phương (tính cả phần ngân sách TW hỗ trợ các địa phương nhưng được quyết toán tại địa phương) cho giáo dục mầm non, phổ thông của cả nước khoảng trên 155 nghìn tỷ đồng, trong đó tổng chi ngân sách địa phương trung bình/năm (2011-2016) cho giáo dục mầm non, phổ thông của các tỉnh ĐBSCL khoảng 24.603,1 tỷ đồng.

Chi ngân sách địa phương cho giáo dục ở khu vực ĐBSCL thấp nhất cả nước

Như vậy, tổng chi ngân sách địa phương cho giáo dục mầm non, phổ thông của các tỉnh ĐBSCL chiếm 15,9 % tổng chi của cả nước, trong khi đó tổng số học sinh của ĐBSCL chiếm 17,5% tổng số học sinh của cả nước (chưa tính đến tỷ lệ bỏ học của ĐBSCL cao hơn mặt bằng chung của cả nước và tỷ lệ huy động trẻ ra lớp của cấp MN còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước).

Mức chi ngân sách địa phương trung bình cho một học sinh mầm non, phổ thông cả nước là 8.372,6 nghìn đồng trong khi đó với ĐBSCL là 7.380,2 nghìn đồng. Như vậy mức chi của ĐBSCL thấp hơn bình quân chung của cả nước là 11,9% (trong đó thấp hơn bình quân chung của cả nước về chi đầu tư là 8,6%, chi thường xuyên 12,5%). Phân bổ chi ngân sách địa phương cho các cấp học cũng chưa hợp lý.

Trong khi nguồn ngân sách địa phương chi cho giáo dục thấp thì nguồn vốn trung ương hỗ trợ các địa phương khu vực ĐBSCL thông qua các chương trình, đề án nói chung chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số vốn trung ương hỗ trợ các địa phương - thấp nhất so với các vùng trong cả nước, do chính sách hỗ trợ tập trung cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà các tỉnh ĐBSCL có ít đối tượng thụ hưởng so với các vùng khó khăn khác.

Đến năm 2025, giáo dục ĐBSCL phát triển ngang bằng cả nước?

Mặc dù là khu vực có điều kiện kinh tế phát triển song nhìn từ thực trạng giáo dục và đào tạo của 13 tỉnh ĐBSCL cho thấy còn quá nhiều bất cập trong phát triển giáo dục, đây thực sự là các tỉnh thuộc diện "vùng trũng về giáo dục và đào tạo" cần được quan tâm đầu tư; cần có những chính sách nhằm đưa giáo dục và đào tạo ở các tỉnh ĐBSCL phát triển ngang bằng với mặt bằng chung của cả nước.

Cần những giải pháp quyết liệt để giáo dục ĐBSCL "vượt trũng"

Để đạt được mục tiêu đặt ra đến năm 2025 giáo dục của các tỉnh ĐBSCL tối thiểu phát triển ngang bằng với bình quân chung của cả nước, các tỉnh trong khu vực cần khẩn trương rà soát, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 19 và Nghị quyết 37.

Cân đối bố trí ngân sách cho giáo dục tại địa phương đảm bảo tối thiểu ngang bằng với tỷ lệ bình quân chung của cả nước. Đồng thời, điều chỉnh việc phân bổ ngân sách chi cho các cấp học mầm non, tiểu học, THCS và THPT một cách hợp lý và phù hợp với định hướng phát triển giáo dục của địa phương.

Thực hiện việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục theo lộ trình, phù hợp với việc cân đối, bố trí các nguồn lực thực hiện, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, đảm bảo chất lượng giáo dục, tránh việc thực hiện chỉ dựa trên quyết tâm chính trị, duy ý chí để giảm biên chế, giảm số lượng đơn vị sự nghiệp công lập mà không xem xét đến điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục.

Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tạo cơ chế khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động hợp tác, liên kết với các cá nhân, đơn vị có uy tín trong và ngoài nước huy động các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục.

Về chính sách, cần ban hành cơ chế, chính sách cho vùng ĐBSCL; mở rộng đối tượng được hưởng chế độ ăn trưa, miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với trẻ mẫu giáo 3,4 và 5 tuổi thuộc hộ cận nghèo, trẻ vùng sông nước khó khăn trong việc đến trường, lớp.

Nếu chương trình kiên cố hóa trường lớp học giai đoạn 2021-2025 được thực hiện cần cho phép các tỉnh ĐBSCL tham gia với các tiêu chí, điều kiện như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, nhằm giúp các tỉnh trong vùng xóa bỏ các phòng học tạm, tranh tre nứa lá, từng bước tháo gỡ khó khăn về cơ sở vật chất trường học cho toàn vùng.

Ngày 25/5, tại Cần Thơ, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị đánh giá thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là hội nghị mang tầm khu vực đầu tiên do Bộ GD&ĐT tổ chức nhằm tìm ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, đặc biệt là trong điều kiện chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới. Sau ĐBSCL, Bộ GD&ĐT cũng sẽ tổ chức hội nghị ở các khu vực khác.

 

Trung tâm Truyền thông Giáo dục


Nguồn: Nguồn: http://www.moet.gov.vn (Trung tâm Truyền thông Giáo dục)
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết