Wednesday, 26/06/2019 - 00:36|
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2019 (TỪ NGÀY 24/6/2019 ĐẾN NGÀY 27/6/2019)
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Phát triển giáo dục ĐBSCL: Cần chính sách đặc thù

Ngày 25/5, tại thành phố Cần Thơ, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị đánh giá thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ và Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ chủ trì Hội nghị.

Tham dự hội nghị có đại diện Ủy ban Trung ương MTTTQ Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, lãnh đạo UBND, Sở GD&ĐT 13 tỉnh/thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đây là hội nghị đánh giá thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông mang tầm khu vực đầu tiên do Bộ GD&ĐT tổ chức nhằm tìm ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, đặc biệt là trong điều kiện chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới. Sau ĐBSCL, Bộ GD&ĐT cũng sẽ tổ chức hội nghị ở các khu vực khác.

“Hội nghị Diên Hồng” về giáo dục khu vực ĐBSCL

Phát biểu mở đầu Hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh, đây là hội nghị quan trọng nhằm trao đổi bàn bạc giải quyết bài toán không mới nhưng rất cần có sự đầu tư thêm và đầu tư sâu, đó là phát triển giáo dục ĐBSCL.

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ phát biểu tại Hội nghị

Theo Bộ trưởng, ĐBSCL là khu vực trù phú, điều kiện thiên nhiên tốt, là một trong những khu vực tăng trưởng kinh tế trọng điểm. Mặc dù có sự cố gắng trong phát triển kinh tế, quan tâm tới các vấn đề xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo, tuy nhiên giáo dục ĐBSCL vẫn còn nhiều khó khăn, đây vẫn là “vũng trũng” về giáo dục đào tạo.

“Vấn đề đặt ra là phải nâng trũng, vun cao cho giáo dục ĐBSCL. Nhưng làm cách nào thì cần phải được phân tích kỹ, thấu đáo, tìm ra nút thắt khách quan và chủ quan. Nếu không quyết tâm hóa giải những hạn chế của giáo dục thì khoảng cách giữa điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và cung cấp nguồn nhân lực sẽ ngày càng xa. Chúng ta cần bàn tương lai cho giáo dục ĐBSCL trong 5-10 năm tới” - Bộ trưởng cho hay.

Bộ trưởng chỉ ra một số nguyên nhân dẫn tới hạn chế trong phát triển giáo dục của ĐBSCL, một trong số đó là chi ngân sách địa phương cho giáo dục của ĐBSCL thấp nhất cả nước, thấp hơn cả những vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên. Cơ cấu chi bất hợp lý, mầm non ít, bậc phổ thông, đặc biệt trung học tốt hơn.

“Có thể coi đây là “Hội nghị Diên Hồng” với giáo dục và đào tạo ĐBSCL nhằm soát xét thực trạng, tìm ra những vấn đề đang cản trở nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Từ đó, đề xuất những nhóm giải pháp để phát triển giáo dục ĐBSCL, trong đó có đề xuất cơ chế đầu tư đặc thù cho vùng, đảm bảo tính khả thi” - Bộ trưởng nhấn mạnh.

Bộ trưởng cũng đề cập đến những nhóm giải pháp thuộc về địa phương như điều kiện đảm bảo chất lượng, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kiên cố hóa trường lớp đảm bảo đủ điểu kiện tối thiểu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, tài chính… Theo Bộ trưởng, nếu không có sự phối hợp của các địa phương, mục tiêu “nâng trũng” cho giáo dục ĐBSCL sẽ rất khó thành công.  

Giáo dục ĐBSCL cần chính sách đặc thù như Tây Bắc, Tây Nguyên

Báo cáo đánh giá thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông khu vực ĐBSCL của Bộ GD&ĐT cho thấy, mặc dù là những tỉnh có điều kiện kinh tế phát triển, nhiều lĩnh vực kinh tế thuộc tốp đầu của cả nước song ĐBSCL lại là "vùng trũng về giáo dục và đào tạo" cần được quan tâm đầu tư, cần có những chính sách để đưa giáo dục và đào tạo ĐBSCL phát triển ngang bằng với mặt bằng chung của cả nước.

Đại diện địa phương trao đổi tại Hội nghị

Thảo luận tại Hội nghị, đại diện 13 địa phương khu vực ĐBSCL đều thống nhất với báo cáo đánh giá thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông khu vực ĐBSCL, trong đó có thống kê cụ thể của từng địa phương. Các địa phương cũng thống nhất với các đề xuất giải pháp được đưa ra, trong đó đặc biệt là đề xuất xem xét có cơ chế chính sách đặc thù cho giáo dục ĐBSCL giống như Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, bởi đây là vùng sông nước điều kiện đi lại khó khăn, tác động rất lớn đến chất lượng giáo dục.

Đại diện các địa phương cũng kiến nghị về chủ trương tinh giản 10% biên chế đối với viên chức giáo dục. Hiện nay, theo thống kê các tỉnh ĐBSCL đang thiếu gần 17.000 giáo viên mầm non, phổ thông, trong đó giáo viên mầm non thiếu khoảng 11.600 người. Nếu thực hiện tinh giản một cách cơ học sẽ dẫn tới không đảm bảo số lượng và chất lượng giáo viên các bậc học. Làm sao phải đảm bảo nơi nào có học trò, nơi đó có giáo viên.

Đối với việc rà soát, sắp xếp các điểm trường khu vực ĐBSCL, đại diện tỉnh Long An đề xuất, khi sắp xếp các trường thì cần gắn liền với phát triển nông thôn mới. Vì đặc thù vùng ĐBCSL là sông ngòi chằng chịt, nếu hạ tầng giao thông phát triển sẽ hạn chế được các điểm trường lẻ.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Quyền Chủ tịch UBND tỉnh An Giang phát biểu tại Hội nghị

Còn đại diện Sở GD&ĐT tỉnh Kiên Giang thì cho rằng, việc sắp xếp lại mạng lưới trường, lớp tưởng như thuận lợi nhưng đây là vùng nông nghiệp lúa nước, gánh vựa lúa cả nước nên rất khó khăn. Kênh rạch giao thông chằng chịt, quy mô trường, lớp lớn nhưng học sinh phân tán nhiều nơi. Do vậy, khi bố trí đầu tư nên có cơ chế đặc thù cho vùng.

Đề xuất về cơ chế tự chủ cho các địa phương, đại diện tỉnh Tiền Giang cho rằng, nên tạo cơ chế tự chủ cho những địa phương có thể cân đối được thu chi, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tỉnh Tiền Giang xin được thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ. Đại diện tỉnh Tiền Giang khẳng định, muốn giữ được giáo viên giỏi phải có cơ chế chính sách tốt, cơ chế này phải bắt đầu từ việc được tự chủ.

Để tạo được cơ chế đầu tư phát triển cho giáo dục vùng ĐBSCL, đại diện tỉnh An Giang đề nghị Bộ GD&ĐT đánh giá lại toàn diện khu vực ĐBSCL để từ đó có cơ chế chính sách phù hợp, còn đại diện tỉnh Sóc Trăng thì mong muốn, Chính phủ, các bộ, ngành sẽ ưu tiên cho giáo dục ĐBSCL.

Không hạ thấp chuẩn, hạ thấp sẽ thấp mãi

Tại Hội nghị, đại diện một số địa phương đề cập đến việc nhiều tiêu chuẩn rất khó thực hiện tại khu vực ĐBSCL như tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ, trẻ mẫu giáo ra lớp… Từ đó, đề xuất Bộ GD&ĐT hạ chuẩn cho phù hợp với từng vùng miền.

Trao đổi về vấn đề này, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, không nên hạ thấp chuẩn, hạ thấp điều kiện, vì nếu hạ thấp sẽ thấp mãi và đến bao giờ ĐBSCL mới thoát trũng. Quan trọng là phải có chính sách đầu tư để nâng lên.

Quang cảnh Hội nghị

Bộ trưởng cho biết, sau hội nghị này, Bộ GD&ĐT sẽ tổng hợp các ý kiến từ các phương và làm việc với các bộ ngành liên quan, chọn những đề xuất cấp bách, có tính đặc thù, khả thi dựa trên những luận cứ thuyết phục làm căn cứ để tham mưu cho Chính phủ.

Về phía Bộ GD&ĐT cũng sẽ tiếp tục rà soát chính sách, tham mưu cho Chính phủ ban hành các Nghị định sát với thực tế. Bộ cũng sẽ rà soát các thông tư liên tịch, thông tư trong thẩm quyền để bổ sung, hoàn thiện và ban hành mới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục ĐBSCL.

Bộ trưởng cũng cho biết, hiện nay, Bộ GD&ĐT đang xây dựng bộ chỉ số đánh giá giáo dục các địa phương, qua đó nhìn nhận chất lượng giáo dục của từng địa phương, từng vùng, để biết đâu là vùng trũng và trách nhiệm đến đâu của từng bộ, ngành, địa phương.

“Không thể giải quyết những vấn đề của giáo dục bằng những chủ trương chung chung mà cần tính đến đặc thù của từng địa phương, để mỗi địa phương chủ động vươn lên chứ không phải nhìn nhau để phát triển” - Bộ trưởng khẳng định.

Đối với các địa phương, Bộ trưởng lưu ý, cần chủ động rà soát các điều kiện đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn Bộ đã ban hành. Căn cứ tinh thần Nghị quyết 29, Nghị quyết 18, 19 các địa phương chủ động triển khai sắp xếp cơ sở trường lớp, nhân sự và xây dựng đề án quy hoạch, sắp xếp trường lớp giai đoạn tới.

Trong quá trình xây dựng đề án, cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chuyên môn của Bộ để đề án vừa bám sát thực tiễn, vừa bám sát các quy định về quản lý nhà nước. Đặc biệt, cần lưu ý tới chất lượng, tính thiết thực và hiệu quả khi xây dựng đề án quy hoạch, sắp xếp.

Đối với đội ngũ giáo viên phải đảm bảo đúng đủ, tạo điều kiện tốt nhất cho thầy cô, “chúng ta quy định không quá 35 học sinh/lớp nhưng khi sắp sếp, dồn dịch trường lớp tăng lên 45-50 học sinh/lớp, dẫn tới thầy cô bị quá tải mà chính sách đãi ngộ không thay đổi. Vì vậy, tôi đề nghị các địa phương cùng quan tâm tới vấn đề này” - Bộ trưởng nói.

Theo Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, thực tế hiện nay chi cho giáo dục trong tổng chi ngân sách của ĐBSCL thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. “Do đó, đề nghị các địa phương tăng tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục, đặc biệt chi đầu tư phát triển trường, lớp, thiết bị, tăng cho mầm non. Mục tiêu trước mắt là hoàn thành "lấp trũng", sau đó sẽ dần "vun cao" cho giáo dục ĐBSCL” - Bộ trưởng nhấn mạnh.

Thiếu 16.778 giáo viên mầm non, phổ thông; chi ngân sách địa phương cho giáo dục thấp nhất cả nước

Báo cáo tại Hội nghị, ông Phạm Hùng Anh, Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất (Bộ GD&ĐT cho biết, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có 2.029 trường mầm non, 3.101 trường tiểu học, 1.407 trường THCS, 377 trường THPT. Vùng ĐBSCL có 231.147 cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên.

Theo thống kê số lượng thừa thiếu giáo viên từ 13 tỉnh trong khu vực theo định mức năm học 2018-2019, ĐBSCL còn thiếu 11.637 giáo viên mầm non, 2.583 giáo viên tiểu học, 2.157 giáo viên THCS, 401 giáo viên THPT. Tuy nhiên, toàn vùng cũng thừa 1.686 giáo viên tiểu học, 1.073 giáo viên THCS, 3.579 giáo viên THPT.

Mức chi ngân sách địa phương trung bình cho một học sinh mầm non, phổ thông cả nước là 8.372,6 nghìn đồng trong khi đó với ĐBSCL là 7.380,2 nghìn đồng. Như vậy mức chi của ĐBSCL thấp hơn bình quân chung của cả nước là 11,9%. Phân bổ chi ngân sách địa phương cho các cấp học cũng chưa hợp lý.

Do địa hình sông nước, kênh rạch, đi lại không thuận lợi nên ĐBSCL là khu vực có số điểm trường nhiều nhất cả nước và là khu vực duy nhất có điểm trường ở cấp THPT. Bài toán sắp xếp, dồn dịch trường lớp đang đặt ra cấp thiết với khu vực này để nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.

Để các cấp học mầm non, phổ thông của các tỉnh ĐBSCL có điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đạt mức bình quân chung của cả nước cần đầu tư bổ sung xây mới khoảng 3.300 phòng học (cho giáo dục mầm non, tiểu học); cải tạo, nâng cấp (kiên cố hóa) khoảng 8.550 phòng học; mua sắm bổ sung 2.191 bộ thiết bị dạy học; đầu tư mới 758 phòng học bộ môn (cho giáo dục THCS và THPT).

 

Trung tâm Truyền thông Giáo dục


Nguồn: Nguồn: http://www.moet.gov.vn (Trung tâm Truyền thông Giáo dục)
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết